Kiến thức căn bản

Bài 20:Đường trung bình động moving average là gì?

Đường trung bình động MA làm mịn dữ liệu giá để tạo thành một xu hướng theo chỉ báo. Nó không dự đoán hướng giá, mà là xác định hướng hiện tại, mặc dù chúng bị trễ do dựa trên giá quá khứ. Mặc dù vậy, việc đường trung bình động MA giúp Price Action trơn tru và ít bị nhiễu hơn. Chúng cũng tạo thành các khối xây dựng cho nhiều chỉ báo kỹ thuật khác, chẳng hạn như Dải bollinger , MACD và Oscillator McClellan . Hai loại trung bình di chuyển phổ biến nhất là Đường trung bình động MA đơn giản (Simple Moving Average)Đường trung bình động MA theo hàm mũ ( Exponential Moving Average ) . Các đường trung bình động này có thể được sử dụng để xác định  xu hướng hoặc xác định các mức hỗ trợ và kháng cự tiềm năng.

Đây là biểu đồ có cả SMA và EMA trên đó:

Công thức tính đường trung bình động MA đơn giản (SMA) là gì?

Một đường trung bình động MA đơn giản được hình thành bằng cách tính giá trung bình của tài sản trong một chu kỳ cụ thể. Hầu hết các đường trung bình động MA đều dựa trên giá đóng cửa; ví dụ: đường trung bình động MA đơn giản 5 ngày là tổng giá đóng cửa năm ngày chia cho năm. Như tên của nó, đường trung bình động MA đơn giản là trung bình di chuyển của giá. Dữ liệu cũ bị loại bỏ khi dữ liệu mới có sẵn, khiến trung bình di chuyển theo thang thời gian. Ví dụ dưới đây cho thấy trung bình di chuyển 5 ngày phát triển trong ba ngày.

Giá đóng cửa hàng ngày: 11,12,13,14,15,16,17
Ngày đầu tiên của SMA 5 ngày: (11 + 12 + 13 + 14 + 15) / 5 = 13
Ngày thứ hai của SMA 5 ngày: (12 + 13 + 14 + 15 + 16) / 5 = 14
Ngày thứ ba của SMA 5 ngày: (13 + 14 + 15 + 16 + 17) / 5 = 15

Ngày đầu tiên của đường trung bình động đơn giản là bao gồm năm ngày qua. Ngày thứ hai của đường trung bình động đơn giản giảm điểm dữ liệu đầu tiên (11) và thêm điểm dữ liệu mới (16). Ngày thứ ba của đường trung bình động đơn giản tiếp tục bằng cách bỏ điểm dữ liệu đầu tiên (12) và thêm điểm dữ liệu mới (17). Trong ví dụ trên, giá tăng dần từ 11 đến 17 trong tổng số bảy ngày. Lưu ý rằng đường trung bình động đơn giản cũng tăng từ 13 đến 15 trong khoảng thời gian tính toán ba ngày. Ngoài ra, lưu ý rằng mỗi giá trị đường trung bình động đơn giản chỉ là giá đóng cửa trung bình cuối cùng. Ví dụ: đường trung bình động đơn giản cho ngày thứ nhất bằng 13 và giá đóng cửa cuối cùng là 15. Giá bốn ngày trước đó thấp hơn và điều này khiến đường trung bình động đơn giản bị trễ.

Công thức tính đường trung bình động MA hàm mũ (EMA) là gì?

Đường trung bình động theo hàm mũ (EMA) làm giảm độ trễ bằng cách áp dụng trọng số nhiều hơn cho giá gần đây. Trọng số được áp dụng cho giá gần đây nhất phụ thuộc vào chu kỳ tính trong đường trung bình động. EMA khác với các đường trung bình động đơn giản ở chỗ tính toán EMA của một ngày nhất định phụ thuộc vào tính toán EMA cho tất cả các ngày trước ngày đó. Bạn cần nhiều hơn 10 ngày dữ liệu để tính toán EMA 10 ngày chính xác hợp lý.

Có ba bước để tính đường trung bình động theo hàm mũ (EMA). Đầu tiên, tính trung bình động đơn giản cho giá trị EMA ban đầu. Đường trung bình động theo hàm mũ (EMA) phải bắt đầu ở đâu đó, do đó, Đường trung bình động đơn giản được sử dụng làm EMA của giai đoạn trước trong phép tính đầu tiên. Thứ hai, tính hệ số nhân. Thứ ba, tính trung bình động theo hàm mũ cho mỗi ngày giữa giá trị EMA ban đầu và ngày hôm nay, bằng cách sử dụng giá, hệ số nhân và giá trị EMA của giai đoạn trước.

EMA = P(today)*K + EMA(yesterday)*(1-K) trong đó P(today) là giá đóng cửa ngày hiện tại, K = 2/(N+1)

Lưu ý: Giá trị EMA đầu tiên (ngày thứ 10) được lấy theo giá trị SMA để tính các giá trị EMA các ngày tiếp theo.Với việc chọn chu kỳ N = 10, K = 2/(N+1) là cố định ~ 0,1818 (18,18%)

Hệ số nhân (K)

Đường trung bình động theo hàm mũ 10 kỳ áp dụng hệ số nhân K=  18,18% cho mức giá gần đây nhất. EMA 10 cũng có thể được gọi là EMA 18,18%. EMA 20 áp dụng tỷ lệ 9,52% cho mức giá gần đây nhất (2 / (20 + 1) = 0.0952). Lưu ý rằng hệ số nhân cho chu kỳ ngắn nhỏ hơn nhiều hơn hệ số nhân cho chu kỳ dài hơn. Trong thực tế, trọng số giảm một nửa mỗi khi thời gian trung bình di chuyển tăng gấp đôi.

Nếu bạn muốn sử dụng tỷ lệ phần trăm cụ thể cho EMA, bạn có thể sử dụng công thức này để chuyển đổi nó thành chu kỳ thời gian và sau đó nhập giá trị đó làm tham số của EMA:

Chu kỳ = (2 / Phần trăm) – 1
3% Ví dụ: Chu kỳ = (2 / 0,03) – 1 = 65,67 ( tính theo ngày )

Độ chính xác EMA

Dưới đây là ví dụ về bảng tính về  đường trung bình động đơn giản 10 ngày và đường trung bình động theo hàm mũ 10 ngày . Việc tính toán SMA rất đơn giản : SMA 10 ngày chỉ đơn giản là khi giá mới có sẵn và giá cũ đã qua. Đường trung bình động theo hàm mũ trong bảng tính bắt đầu bằng giá trị SMA (22,22) cho giá trị EMA đầu tiên của nó. Sau khi tính toán đầu tiên, công thức EMA bình thường được sử dụng.

Công thức cho EMA kết hợp giá trị EMA của giai đoạn trước, lần lượt kết hợp giá trị cho giá trị EMA trước đó, v.v. Mỗi giá trị EMA trước đó chiếm một phần nhỏ của giá trị hiện tại. Do đó, giá trị EMA hiện tại sẽ thay đổi tùy thuộc vào lượng dữ liệu bạn sử dụng trong quá trình tính toán EMA. Lý tưởng nhất, đối với EMA chính xác 100%, bạn nên sử dụng mọi điểm dữ liệu mà tài sản đã từng có để tính EMA, bắt đầu tính toán của bạn từ ngày đầu tiên tồn tại. Điều này không phải lúc nào cũng thực tế, nhưng bạn càng sử dụng nhiều điểm dữ liệu, EMA của bạn sẽ càng chính xác. Mục tiêu là tối đa hóa độ chính xác trong khi giảm thiểu thời gian tính toán.

Ví dụ bảng tính dưới đây quay trở lại 30 chu kỳ. Chỉ với 30 chu kỳ dữ liệu được kết hợp trong tính toán EMA, giá trị EMA 10 ngày trong bảng tính không chính xác lắm. Trên biểu đồ, chúng tôi tính toán lại ít nhất 250 chu kỳ (thường là nhiều hơn nữa), dẫn đến các giá trị EMA chính xác trong một phần nhỏ của một xu.

Nhấn vào đây để tải ví dụ bảng tính này.

Độ trễ

Đường trung bình động càng dài thì độ trễ càng nhiều. Đường trung bình động theo hàm mũ 10 ngày sẽ theo giá khá chặt chẽ và quay đầu ngay sau khi giá quay đầu. Đường trung bình động chu kỳ ngắn giống như tàu cao tốc – nhanh nhẹn và nhanh chóng thay đổi. Ngược lại, Đường trung bình động 100 ngày chứa nhiều dữ liệu trong quá khứ làm chậm nó. Đường trung bình động chu kỳ dài hơn giống như tàu chở dầu đại dương – thờ ơ và chậm thay đổi. Phải mất một chuyển động giá lớn hơn và dài hơn cho một đường trung bình động 100 ngày để thay đổi hướng đi.

Biểu đồ trên cho thấy S & P 500 ETF với EMA 10 ngày theo sát giá và SMA cao hơn 100 ngày. Ngay cả với sự suy giảm từ tháng 1 đến tháng 2, SMA 100 ngày vẫn không thay đổi xu hướng và quay đầu. SMA 50 ngày phù hợp ở đâu đó giữa các đường trung bình động 10 và 100 ngày khi nói đến hệ số trễ.

Đường trung bình động đơn giản so với hàm mũ

Mặc dù có sự khác biệt rõ ràng giữa đường trung bình động đơn giản và đường trung bình động theo hàm mũ, nhưng cái này không nhất thiết phải tốt hơn cái kia. Đường trung bình theo hàm mũ có độ trễ ít hơn và do đó nhạy cảm hơn với giá gần đây . Đường trung bình động theo hàm mũ sẽ biến động trước khi đường trung bình động đơn giản. Mặt khác, đường trung bình động đơn giản biểu thị mức trung bình thực của giá trong toàn bộ khoảng thời gian. Như vậy, các đường trung bình động đơn giản có thể phù hợp hơn để xác định các mức hỗ trợ hoặc kháng cự .

Đường trung bình động di chuyển phụ thuộc vào mục tiêu, phong cách phân tích và chu kỳ thời gian. Các nhà giao dịch nên thử nghiệm với cả hai loại đường trung bình động cũng như các khung thời gian khác nhau để tìm ra mức phù hợp nhất. Biểu đồ dưới đây cho thấy cổ phiếu IBM có SMA 50 ngày màu đỏ và EMA 50 ngày màu xanh lá cây. Cả hai đều đạt đỉnh vào cuối tháng 1, nhưng sự suy giảm của EMA mạnh hơn so với sự suy giảm của SMA. EMA đã bật lên vào giữa tháng Hai, nhưng SMA tiếp tục thấp hơn cho đến cuối tháng Ba. Lưu ý rằng SMA đã tăng hơn một tháng sau EMA.

Độ dài và khung thời gian

Độ dài của đường trung bình phụ thuộc vào các mục tiêu phân tích. Đường trung bình ngắn (5-20 kỳ) phù hợp nhất cho các xu hướng và giao dịch ngắn hạn. Các nhà giao dịch quan tâm đến các xu hướng trung hạn sẽ chọn các đường trung bình dài hơn có thể kéo dài 20-60 kỳ. Các nhà đầu tư dài hạn sẽ thích di chuyển trung bình với 100 kỳ trở lên.

Một số độ dài đường trung bình động là phổ biến hơn so với những người khác. Đường trung bình động 200 ngày có lẽ là phổ biến nhất. Bởi vì chiều dài của nó, đây rõ ràng là một đường trung bình dài hạn. Tiếp theo, đường trung bình động 50 ngày khá phổ biến cho xu hướng trung hạn. Nhiều biểu đồ sử dụng các đường trung bình động 50 ngày và 200 ngày cùng nhau. Ngắn hạn, trung bình di chuyển 10 ngày khá phổ biến trong quá khứ vì nó dễ tính toán. Người ta chỉ cần thêm các số và di chuyển dấu thập phân.

Xác định xu hướng

Hướng của đường trung bình động truyền tải thông tin quan trọng về giá, cho dù mức trung bình đó là đơn giản hay theo hàm mũ. Một đường trung bình động tăng cho thấy giá nói chung đang tăng. Đường trung bình giảm cho thấy giá trung bình đang giảm. Đường trung bình động dài hạn tăng phản ánh xu hướng tăng dài hạn. Đường trung bình động dài hạn giảm phản ánh xu hướng giảm dài hạn.

Biểu đồ trên cho thấy 3M (MMM) với trung bình động theo hàm mũ 150 ngày. Ví dụ này cho thấy mức trung bình động tốt như thế nào khi xu hướng mạnh. Đường EMA 150 ngày đã dốc xuống vào tháng 11 năm 2007 và một lần nữa vào tháng 1 năm 2008. Lưu ý rằng nó đã giảm 15% để đảo ngược hướng của đường trung bình động này. Các chỉ báo độ trễ này xác định sự đảo ngược xu hướng khi chúng xảy ra (tốt nhất) hoặc sau khi chúng xảy ra (tồi tệ nhất). MMM tiếp tục giảm thấp hơn vào tháng 3 năm 2009 và sau đó tăng 40-50%. Lưu ý rằng EMA 150 ngày không bật lên cho đến khi tăng đột biến này. Tuy nhiên, khi đã làm, MMM tiếp tục cao hơn trong 12 tháng tới. Đường trung bình động dốc lên trong các xu hướng tăng mạnh mẽ.

Giao cắt của các đường MA

Hai đường trung bình có thể được sử dụng cùng nhau để tạo tín hiệu chéo. Trong phân tích kỹ thuật về thị trường tài chính , John Murphy gọi đây là phương pháp giao thoa kép. Giao điểm cắt nhau liên quan đến một đường trung bình động tương đối ngắn và một đường trung bình động tương đối dài. Như với tất cả các đường trung bình động, độ dài chung của đường trung bình động xác định khung thời gian cho hệ thống. Một hệ thống sử dụng EMA 5 ngày và EMA 35 ngày sẽ được coi là ngắn hạn. Một hệ thống sử dụng SMA 50 ngày và SMA 200 ngày sẽ được coi là trung hạn, thậm chí là dài hạn.

Sự giao nhau tăng xảy ra khi đường trung bình động chu kỳ ngắn hơn cắt trên đường trung bình động chu kỳ dài hơn. Đây còn được gọi là một chữ thập tăng. Sự giao nhau trong xu hướng giảm xảy ra khi đường trung bình động chu kỳ ngắn cắt dưới đường trung bình động chu kỳ dài. Điều này được gọi là một chữ thập giảm.

Giao điểm của các đường trung bình động tạo ra tín hiệu tương đối muộn. Rốt cuộc, hệ thống sử dụng hai chỉ báo bị trễ. Chu kỳ đường trung bình động càng dài, độ trễ trong tín hiệu càng lớn. Những tín hiệu này hoạt động tuyệt vời khi một xu hướng tốt được giữ. Tuy nhiên, một hệ thống giao điểm của các đường trung bình động sẽ tạo ra rất nhiều điểm giao cắt trong trường hợp không có xu hướng mạnh.

Ngoài ra còn có một phương pháp giao điểm của ba đường trung bình động. Một lần nữa, tín hiệu được tạo khi đường trung bình động chu ký ngắn nhất cắt lên trên hai đường trung bình động chu kỳ dài hơn. Một hệ thống giao điểm của ba đường trung bình động đơn giản có thể bao gồm các đường trung bình động 5 ngày, 10 ngày và 20 ngày.

Biểu đồ trên hiển thị Home Depot (HD) với EMA 10 ngày (đường chấm màu xanh lá cây) và EMA 50 ngày (đường màu đỏ). Các đường màu đen là giá đóng cửa hàng ngày. Sử dụng giao điểm của các đường trung bình động sẽ dẫn đến điểm giao cắt trước khi bắt được một giao dịch tốt. Đường EMA 10 ngày đã phá vỡ dưới đường EMA 50 ngày vào cuối tháng 10 (1), nhưng điều này không kéo dài khi  EMA 10 ngày  di chuyển trở lại phía trên vào giữa tháng 11 (2). Sự giao nhau này kéo dài lâu hơn, nhưng sự giao nhau giảm giá tiếp theo vào tháng 1 (3) xảy ra gần mức giá cuối tháng 11, dẫn đến một điểm giao cắt khác. Điểm giao cắt giảm giá này không tồn tại được lâu khi EMA 10 ngày đã quay trở lại trên mức 50 ngày một vài ngày sau đó (4). Sau ba tín hiệu xấu, tín hiệu thứ tư đã báo trước một động thái mạnh mẽ khi cổ phiếu tăng hơn 20%.

Có hai điểm chú ý ở đây. Đầu tiên, giao nhau 2 đường trung bình động dễ bị nhiễu (whipsaw) . Một bộ lọc giá hoặc thời gian có thể được áp dụng để giúp ngăn chặn bị nhiễu. Các nhà giao dịch có thể xem xét sự giao nhau kéo dài 3 ngày trước khi hành động hoặc xem xét EMA 10 ngày để di chuyển trên / dưới EMA 50 ngày một khoảng nhất định trước khi hành động. Thứ hai, MACD có thể được sử dụng để xác định và định lượng các giao thoa này. MACD (10,50,1) sẽ hiển thị một đường biểu thị sự khác biệt giữa hai đường trung bình động theo hàm mũ. MACD chuyển động đi lên trong một chữ thập tăng và đi xuống trong một chữ thập giảm. Bộ dao động tỷ lệ phần trăm giá (PPO) có thể được sử dụng theo cùng một cách để hiển thị phần trăm chênh lệch. Lưu ý rằng MACD và PPO dựa trên các đường trung bình động theo hàm mũ và sẽ không khớp với các đường trung bình động đơn giản.

Biểu đồ này hiển thị cổ phiếu Oracle (ORCL) với EMA 50 ngày, EMA 200 ngày và MACD (50.200,1). Có bốn giao thoa trung bình động trong khoảng thời gian 2 năm rưỡi. Ba đầu tiên dẫn đến các điểm giao nhau nhiễu ( whipsaw) hoặc giao dịch xấu. Một xu hướng bền vững bắt đầu với sự giao nhau thứ tư khi ORCL tiến đến giữa những năm 1920. Một lần nữa, giao điểm của đường trung bình hoạt động tuyệt vời khi xu hướng mạnh mẽ, nhưng gây ra tổn thất trong trường hợp không có xu hướng.

Giao cắt với giá

Đường trung bình cũng có thể được sử dụng để tạo tín hiệu với sự giao nhau với giá đơn giản. Một tín hiệu tăng được tạo ra khi giá di chuyển trên mức trung bình động. Một tín hiệu giảm được tạo ra khi giá di chuyển dưới mức trung bình động. Giao cắt với giá có thể được kết hợp để giao dịch trong xu hướng lớn hơn. Đường trung bình động dài hơn dẫn đắt cho xu hướng lớn hơn và đường trung bình động ngắn hơn được sử dụng để tạo tín hiệu. Người ta sẽ tìm kiếm giá tăng chỉ khi giá đã vượt quá mức trung bình dài hơn. Đây sẽ là giao dịch hài hòa với xu hướng lớn hơn. Ví dụ: nếu giá cao hơn mức trung bình động 200 ngày, các nhà giao dịch sẽ chỉ tập trung vào các tín hiệu khi giá di chuyển trên mức trung bình động 50 ngày. Rõ ràng, một động thái dưới mức trung bình động 50 ngày sẽ đi trước một tín hiệu như vậy, nhưng những đợt giảm giá như vậy sẽ bị bỏ qua vì xu hướng lớn hơn đang lên. Một chữ thập giảm giá chỉ đơn giản sẽ chỉ là một cú pullback trong một xu hướng tăng lớn hơn. Việc vượt qua mức trung bình động 50 ngày sẽ báo hiệu sự tăng giá và tiếp tục xu hướng tăng lớn hơn.

Biểu đồ tiếp theo hiển thị cổ phiếu Emerson Electric (EMR) với EMA 50 ngày và EMA 200 ngày. Các cổ phiếu đã vượt qua và giữ trên mức trung bình động 200 ngày trong tháng Tám. Có sự sụt giảm dưới đường EMA 50 ngày vào đầu tháng 11 và một lần nữa vào đầu tháng Hai. Giá nhanh chóng di chuyển trở lại trên đường EMA 50 ngày để cung cấp tín hiệu tăng (mũi tên xanh) hài hòa với xu hướng tăng lớn hơn. MACD (1,50,1) được hiển thị trong cửa sổ chỉ báo để xác nhận giá vượt trên hoặc dưới đường EMA 50 ngày. EMA 1 ngày bằng với giá đóng cửa. MACD (1,50,1) là dương khi mức đóng cửa nằm trên đường EMA 50 ngày và âm khi mức đóng cửa nằm dưới đường EMA 50 ngày.

Hỗ trợ và kháng cự

Đường trung bình động cũng có thể đóng vai trò là hỗ trợ trong một xu hướng tăng và kháng cự trong một xu hướng giảm. Xu hướng tăng ngắn hạn có thể tìm thấy hỗ trợ gần đường trung bình động đơn giản trong 20 ngày, cũng được sử dụng trong Dải bollinger. Xu hướng tăng dài hạn có thể tìm thấy hỗ trợ gần đường trung bình động đơn giản 200 ngày, đây là đường trung bình động dài hạn phổ biến nhất. Trên thực tế, đường trung bình động 200 ngày có thể cung cấp hỗ trợ hoặc kháng cự đơn giản vì nó được sử dụng rộng rãi. 

Biểu đồ trên cho thấy NY Composite với trung bình động đơn giản 200 ngày từ giữa năm 2004 đến cuối năm 2008. 200 ngày cung cấp hỗ trợ nhiều lần trong thời gian trước. Khi xu hướng đảo ngược với mức phá vỡ hỗ trợ hàng đầu gấp đôi, đường trung bình động 200 ngày đóng vai trò là ngưỡng kháng cự tại vùng giá 9500.

Đừng mong đợi các mức hỗ trợ và kháng cự chính xác từ các đường trung bình động, đặc biệt là các đường trung bình chu kỳ dài. Thị trường được thúc đẩy bởi cảm xúc, khiến chúng dễ bị lu mờ. Thay vì mức chính xác, đường trung bình di động có thể được sử dụng để xác định vùng hỗ trợ hoặc vùng kháng cự

Phần kết luận

Những lợi thế của việc sử dụng đường trung bình cần phải được cân nhắc với những nhược điểm. Đường trung bình là xu hướng theo sau, hoặc có độ trễ, các chỉ số sẽ luôn luôn chậm một bước. Đây không hẳn là một điều xấu. Rốt cuộc, xu hướng là bạn của bạn và tốt nhất là giao dịch theo hướng của xu hướng. Đường trung bình động đảm bảo rằng một nhà giao dịch phù hợp với xu hướng hiện tại. Mặc dù xu hướng là bạn của bạn, chứng khoán cần rất nhiều thời gian trong phạm vi giao dịch, khiến cho việc đường trung bình động không hiệu quả. Một khi trong một xu hướng, đường trung bình động sẽ chỉ báo cho bạn, nhưng cũng cho tín hiệu muộn. Đừng mong đợi bán ở đỉnh và mua ở đáy bằng cách sử dụng các đường trung bình động. Như với hầu hết các công cụ phân tích kỹ thuật, trung bình động không nên được sử dụng riêng mà kết hợp với các công cụ bổ sung khác như Bolinger Band, MACD hay RSI…

Tổng hợp bởi Ngoaihoi68.com

Tags

admin

Tôi là Tiến Dũng chủ sở hữu website này. Ngoaihoi68.com là chuyên trang cập nhật thông tin tài chính ngoại hối, hàng hóa, chứng khoán nhanh chóng, nơi chia sẻ những kiến thức về tài chính mà mình biết và tìm hiểu. Hy vọng, nó sẽ giúp ích cho mọi người

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Related Articles

Back to top button
Close
Close
Gọi ngay
Telegram
Zalo chát
Góp ý
Mở tài khoản